Nhà văn Nguyên Hồng với Tiếng Việt và ngôn ngữ văn chương

Sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng mỗi lần nói chuyện với cán bộ làm công tác văn hóa, nghiên cứu, sáng tác và giảng dạy văn học, thường nhấn mạnh: “Phải giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt”.

Nguyên Hồng là nhà văn lớn. Trong cuộc đời gần nửa thế kỷ cầm bút, ông đã để lại cho đời hơn 40 tác phẩm gồm đủ các thể loại: Tiểu thuyết, truyện ngắn, hồi ký, nghiên cứu lý luận văn học, thơ…. trong đó bộ Cửa Biển lực lưỡng, vạm vỡ của ông đến khi ông mất chưa có tác phẩm nào sánh kịp. Để có được khối lượng văn tài đồ sộ ấy, tất Nguyên Hồng phải rất “dày vốn” (chữ của nhà văn Tô Hoài nhận xét về Nguyên Hồng) trong đó phải kể đến sự giàu có về kho tàng ngôn ngữ.

Nguyên Hồng quan niệm: “Nhân dân ta, phần đông là nông dân rất tinh tế, thông minh, mà cũng rất giản dị, đã xây dựng nên cả một kho tàng ngôn ngữ ngày càng giàu có, sống động, tinh vi, đầy đủ và trong sáng. Nếu người viết không dày công nghiên cứu, không hiểu biết sâu sắc, không biến đó thành vốn liếng máu thịt của mình mà lại dùng “thuật”, dùng “nghề” thì dù có tinh khôn, bắt chước tuyệt khéo đến mức nào chăng nữa thì văn chương viết ra cũng chỉ là giả khượt”. Ông rất tâm đắc với câu nói của nhà văn Nguyễn Tuân: “Nhà văn được thừa tự cái hương hỏa tiếng nói dân tộc. Chúng ta không những không được bỏ sót nó mà còn phải không ngừng làm dậy lên cái vốn sống đó…”.

Nhà văn Nguyên Hồng

Có lẽ chính vì thế mà Nguyên Hồng rất chú tâm lượm lặt, thu gom, ngôn ngữ từ đời sống rồi tinh lọc, chưng cất đưa vào trang viết. Chẳng hạn, chỉ một từ gốc: ĂN và sự biến hóa của nó, khi đứng độc lập hay ghép với một từ khác, Nguyên Hồng đã dẫn ra tới hơn ba mươi nghĩa khác nhau, trong trạng thái, tình huống, hoàn cảnh, tính chất khác nhau, diễn tả mọi mặt đời sống, trong văn cảnh khác nhau: ĂN Ở – nói về quan hệ đối xử với người khác và cộng đồng; ĂN MẶC – nói về trang phục, tính cách (“nhìn quân phục biết tư cách”); ĂN NÓI – Thuộc phạm trù ngôn ngữ; ĂN NẰM – có khi chỉ quan hệ ân ái, nam nữ, vợ chồng (“Hai người ăn nằm với nhau đã được ba mặt con”); ĂN LƯỜNG, ĂN QUỴT, ĂN CẮP, ĂN KHÔNG NÓI CÓ… – nói về đạo đức; ĂN, có khi lại mang ý nghĩa là bị đánh (“Bố mày về lại cho ăn đòn”; “Tôi cho nó ăn hai cái tát”) ; ĂN, có khi lại nghĩa là chết (“Đừng nhô đầu lên là ăn đạn đấy”; “Hai thằng Mỹ ăn gọn một băng tiểu liên”; “Thế là cụ đã ăn chuối cả nải”); ĂN có khi lại là sự thua được trong làm ăn, buôn bán (“Phi vụ ấy hắn ăn to” ; “Chuyến hàng vừa rồi không ăn thua”); Ăn lãi, Ăn chênh lệch giá, Ăn hoa hồng; ĂN lại có thể là một động tác trong trò chơi nào đó (“Con xe ăn con mã” (đánh cờ); hai người chơi bài hỏi nhau: “Có ăn không?”). Có trường hợp tuy nói là ĂN nhưng lại chẳng được ăn gì (“Năm nay cháu nó ăn Tết ở chiến trường”). Đơn vị hành quân bị địch phục kích chạy dạt vào nằm trong rừng sâu 3 – 4 ngày liền nhịn đói chứ nào có được ăn gì! Nhắc đến câu này Nguyên Hồng bình: “Chao ôi! Đọc tiếng/chữ ĂN này sao mà thấy ngọt, thấy thấm. Có khi không có thịt mỡ dưa hành, không có bánh chưng xanh, không có cả cơm nữa mà vẫn cảm thấy mình được ĂN…”. ĂN còn có khi thuộc phạm trù triết học (“Ăn cơm với mắm thì ngắm về sau”; “Ăn của rừng rưng rưng nước mắt”…

Do sự am tường nhuần nhuyễn về ngôn ngữ tiếng Việt, trong cách nói, cách viết của Nguyên Hồng rất chuẩn xác, tinh tế: “CÁI HẢI PHÒNG của tôi nó lạ lắm cơ, anh ạ”; “Thằng cha ấy nó dùng chữ QUÁI lắm”. Khi đang dùng bữa, nghe một câu chuyện buồn, ông buông đũa, bảo dọn mâm rồi nói: “Nếu cứ ăn, uống nữa thì PHŨ lắm”. Có lần góp ý bản thảo một truyện ngắn của người viết bài này, ông lắc đầu:” Đoạn văn đọc đang XUÔI TAI, VẤP phải câu này bị KHỰNG lại, nếu anh cứ viết GIĂNG DÀI thì MẠCH VĂN sẽ bị KHƯỢT RA”; lần khác, sau khi đọc bản thảo của một cây bút trẻ, ông tỏ ý không hài lòng: “Cuộc sống như một người đàn bà ngồn ngộn, phồn thực mà văn anh như người đàn ông liệt dương thì làm sao có thể sinh ra đứa con tinh thần (tác phẩm) khỏe mạnh, có sức sống lâu bền được?”. Theo thiển nghĩ của riêng tôi, những từ CÁI, QUÁI, XUÔI TAI, VẤP, KHỰNG, MẠCH VĂN, PHŨ…rất hay và độc đáo, khó có thể thay bằng từ/ chữ nào khác hay hơn

Cũng chính vì vốn ngôn ngữ giàu có, câu văn Nguyên Hồng khi bay bướm, tung tẩy, khi sâu lắng, đậm đà cuốn hút tâm hồn người đọc: “Đôi roi múa lúc thành mưa hoa; lúc thành những đường sáng; lúc thành một áng cầu vồng rung rinh như có thứ chim vàng, cá bạc bay nhảy; lúc thành lớp ngựa phi xung trận rồi lắng đi phất phơ, tha thướt…” (Truyện ngắn “Cháu gái người mãi võ họ Hoa”); “Gió từ sông Cấm thổi đằng sau như đuổi. Trời nắng và quang mây. Thỉnh thoảng một tầng mây trắng ở đỉnh trời lại tản đi nhẹ nhàng và ngon lành như sợi kẹo bông (Chương 10, tiểu thuyết Sóng Gầm).

Nghiêm túc, cẩn trọng, kỹ lưỡng là nếp quen làm việc của nhà văn Nguyên Hồng… Ông không thể chịu được, có lúc vô cùng bức xúc đối với thói qua loa, đại khái đối với ai đó viết ra những câu văn dễ dãi, cẩu thả. Ông thường gạch xóa những từ “tích cực”, “quyết tâm”, “gian khổ”, “vươn lên”…, khi đọc bản thảo của các học trò và phê phán gay gắt. Rồi ông căn dặn chúng tôi, những người mới tập tẹ vào nghề, học viết văn: “Phải lắng nghe lời nói, câu nói, cách nói, tình ý khi ăn nói của những người thường gặp rồi góp nhặt tạo lấy vốn liếng cho mình. Chỉ có như thế câu văn mới có hồn có vía’’. Có lần được mời chấm thi học sinh giỏi môn Văn tỉnh Bắc Giang, hôm trước nhận bài, sáng sớm hôm sau ông đã hốt hoảng chạy sang gặp thầy Hiệu trưởng một trường cấp II gần đó: “Thầy ơi! Hỏng! Hỏng thật rồi. Học hết cấp II mà tôi mới đọc một trang đã gần chục lỗi chính tả. Thật không chịu nổi”. Trông ông buồn rười rượi, vẻ mặt đau khổ, thầy Hiệu trưởng vừa buồn vừa thương.

Phải là người tâm huyết với học trò, lo lắng cho học trò, có tình yêu tha thiết tiếng Việt và văn chương mới có được tấm lòng như thế./.         

Bài viết liên quan