Giữ mãi dòng Đa Độ biếc xanh

Con sông Đa Độ, nhắc đến, ai trong chúng ta chẳng biết với những cảm nhận, những kỷ niêm đằm thắm khó quên. Con sông bé nhỏ, hiền hòa vắt ngang dải đất thân thuộc, màu mỡ phia tây-nam thành phố, trôi lặng lẽ, êm đềm giữa những cánh ruộng, bến bãi, xóm làng-một vùng đồng quê trù mật, luôn gợi lên khung cảnh thanh bình, yên ả, chan chứa tình quê hương xứ sở.

Con sông Đa Độ

       Con sông có lai lịch pha chút huyền thoại gắn với chiều dài lịch sử hình thành, phát triển tỉnh Kiến An cũ, nay là 2 huyện An Lão, Kiến Thụy và 3 quận Kiến An, Dương Kinh, Đồ Sơn với 23 xã-phường nó uốn khúc chảy qua. Xa xưa, từ dòng chính, nó có 9 nhánh tủa ra, nom như cây bầu khổng lồ có 9 quả, mỗi nhánh lại từ nhánh chính tủa ra nhiều nhánh phụ hình cái nậm rượu, người đời thấy dòng sông thân tình như cuộc sống của họ mới gọi dòng sông là Cửu Biều Giang (cửu là 9, biều là quả bầu hình nậm rượu, thường được nấu canh tôm, ăn rất ngon, mát). Về sau, nó liên tục đổi dòng sinh ra nhiều nhánh đồng thời hình thành nhiều bến nước, bến đò, bến cá…nên dân giã đổi thành tên Đa Độ (đa: nhiều, độ: bến). Có những giai thoại rất nhân văn được truyền tụng từ đời này qua đời khác: nhiều đôi trai gái thập phương rủ nhau về những bến đó lập nghiệp cùng với xây dựng tổ ấm của mình, họ nối những khúc sông chảy quẩn quanh đó với nhau để canh tác và đi lại, hết đời chưa hết việc, họ nằm lại đó dưới những nấm mộ đơn lẻ phong sương, nguyện phù hộ cho con cháu tiếp tục sự nghiệp nối sông, dựng bến. Có những ngôi miếu cổ kính nằm rải đôi bờ thờ tự họ, lưu công lao họ cho đến ngày nay. Thật quý hóa sự tôn kính lặng lẽ song vô giá đó!

        Con sông có độ dài nhất trong số các con sông lớn nhỏ trên địa bàn thành phố Cửa biển: 50 ngàn mét, bắt nguồn từ ngã ba thượng lưu sông Luộc thuộc thôn Trung Trang, xã Bát Trang, huyện An Lão, bên kia là huyện vải thiều nổi tiếng Thanh Hà, rồi qua từng khúc, từng khúc nhẩn nha trôi ra Biển Đông qua cống Cổ Tiểu thuộc xã Đại Hợp, huyện Kiến Thụy. Đa Độ thực chất là một chi lưu của sông Văn Úc, con sông lớn của châu thổ đồng bằng Bắc bộ-cửa Văn Úc đã nhiều lần thay điểm đấu vào vùng đất ven biển Đồ Sơn, Kiến Thụy để góp phần hình thành sông Đa Độ, lúc đầu là cửa Bàng La, rồi đến cửa Cổ Trai, sau cùng là cửa Cổ Tiểu như bây giờ. Dấu tích còn lại là những hồ, đầm đầy lăn lác mà hôm nay đã trở thành những trang trại giàu có của những nông dân giỏi mấy xã. Đồng thời, Đa Độ cũng có những chi lưu, không chút lạ kỳ, chi lưu lại đẻ ra chi lưu, với những cái tên gắn với địa phương, như: sông He, sông Họng, sông Sàng…

Núi Đối và thị trấn Núi Đối nhìn từ sông Đa Độ.

       Con sông cùng các chi lưu, lưu vực của nó, mùa mưa, nước duyềnh đầy ắp chứa cả trăm triệu khối là một trong 2 con sông (sông Giá – Thủy Nguyên) chứa nhiều nước và nước sạch nhất thành phố, tự ngàn đời nay nuôi sống những cánh đồng mập mạp, những xóm làng trù phú cùng với lớp lớp người “một nắng hai sương” bên nó, vẫn xanh tươi ngồn ngộn, vẫn chảy mãi không thôi và biết bao thơ mộng. Nhà máy nước Cầu Nguyệt có dung tích 4 vạn mét khối/ngày-đêm cùng 33 nhà máy mi-ni đã khai thác một phần tài nguyên quý giá đó cung cấp nước sinh hoạt cho hàng chục vạn dân đôi bờ và những công xưởng công nghiệp nằm rải rác khắp 5 quận – huyện. Dòng sông không có cảnh “đỏ nặng phù sa”, không mang thuộc tính “bên lở bên bồi”, không nổi sóng dữ dằn như những con sông ngoài đê mà muôn đời như một con mương nội đồng chỉ êm trôi hiền dịu và rất đỗi thân thiện với con người.

        Sống chung với dòng sông, hòa với dòng sông đi cùng năm tháng, mỗi cư dân đều ý thức được trách nhiệm cũng như tấm lòng mình với dòng sông. Ai ai cũng với cách của mình đều ra sức chăm sóc, giữ gìn, bảo vệ dòng song từ mỗi khúc, mỗi bến bờ, tự thuở hoang sơ cho đến bây giờ và chắc chắn cả mai sau. Ngày còn phong trào đổi công – hợp tác, các đội thủy lợi 202 (đội chuyên làm công tác thủy lợi của mỗi htx ra đời theo QĐ 202 của Chính phủ) đã dành cả thời gian lao động trong năm cho công việc tu bổ đê điều, xây dựng cống nải, nạo vét, khơi dòng các dòng sông, kênh, mương nội đồng. Cả việc trồng tre phòng- chống bão cho đê, trồng cây chắn sóng, cây ngăn mặn ngoài cửa sông. Có đến cả triệu công mỗi năm. Vào đầu những năm đổi mới, coi “nông nghiệp là mặt trận hàng đầu”, thành phố cấp tốc xây dựng 4 cống lớn (Nhà thơ Tố Hữu từng nêu trong bài thơ tặng Hải PhòngBốn cống, ba cầu, năm cửa ô”) trong đó, sông Đa Độ có 2: cống Trung Trang để tận dụng cao nhất nước ngọt từ thượng nguồn, cống Cổ Tiểu để tiêu thoát úng ra biển nhanh nhất. Thành phố sớm lập Cty thủy nông Đa Độ chuyên đảm nhiệm công tác quản lý, khai thác, bảo vệ, giữ gìn dòng sông trong sạch; thời kỹ sư thủy lợi có tài Đỗ Văn Thiệu làm giám đôc có tới 300 công nhân ăn lương tháng theo dòng sông. Nhớ những mùa mưa lũ lớn, dòng Đa Độ như rộng ra, nước trắng băng đe họa mất mùa cả mấy huyện lúa. Hàng chục máy bơm lớn công suất 4.000 mét khối/h của 2 cống Trung Trang, Cổ Tiểu cùng hàng trăm bơm điện khắp hệ thống thủy nông Đa Độ như những vòi rồng ngày đêm xối xả tuôn nước. Cả vùng mở chiến dịch “nghiêng đồng đổ nước ra sông”, cứu lúa, cứu người. Cuộc chiến với giặc nước dưới cánh đồng có phần ác liệt chẳng khác mấy cuộc chiến chống giăc xâm lược trên không phận. Đa Độ trở nên một trận địa mà ở đó ghi dấu nhiều chiến công chiến thắng thiên tai của quân dân ta. Qua những trận lũ lụt, hạn hán ác nghiệt, lúa đôi bờ vẫn sai bông, nặng hạt, chĩu chịt, bừng lên màu vàng suộm nhuộm thắm cả mặt sông, bầu trời thu trong vắt.

Cầu vượt sông Đa Độ

            Bước vào công cuộc đổi mới, Đa Độ đã sớm chuyển mình, để có thể “vì con người đang đi lên” được nhiều hơn, hiệu quả hơn, và, đến lượt mình, con người có thể khai thác, chinh phục nó trên một bình diện rộng lớn hơn, một mạch nguồn mới hơn. Ấy là một Đa Độ du lịch, một Đa Độ ẩm thực, một Đa Độ môi trường sinh thái, một Đa Độ an sinh xã hội…Những cây cầu gây ấn tượng cho khách bộ hành qua dòng Đa Độ như Cầu Vàng, Cầu Nguyệt, Cầu Đối, Cầu Sẽ, cầu Trạm Bạc, cầu Hữu Bằng, cầu đường cao tốc… đã đẹp, khang trang lại  được tu sửa, nâng cấp đẹp hơn, khang trang hơn, tưởng chỉ phục vụ giao thông thông suốt, đi lại thuận tiện; những ngôi miếu, ngôi chùa, ngôi đình cổ kinh nằm rải rác ven sông, đêm ngày nghi ngút hương khói cùng tiếng mõ gõ nhịp vào thinh không, tưởng chỉ có tín ngưỡng – tâm linh…Những hiện sinh đó, không chỉ mang ý nghĩa truyền thống mà nó đã dần trở thành điểm đến thăm thú của khách thập phương, trở thành tua du lịch du ngoạn đồng quê hấp dẫn; khách các tỉnh-thành phố lân cận đông lên qua mỗi mùa lễ hội và có thêm nhiều khách nước ngoài. Những bến nước, bến sông hữu tình đã gợi cho nhiều người hoài cổ, hướng cổ dày công tìm kiếm dựng lại vườn – nhà xưa với cổng ra vào phỏng theo cổng làng Cự Nẫm, với ao sen, nhà “3 gian 2 chái”, bếp đun rơm rạ, vườn trầu cau, chuồng nuôi lợn rừng, gà ác, chó mực, mèo tam thể, với cối xay lúa, cối giã gạo, giần, sàng, nong, lia, cày chìa vôi, bừa chữ nhi, mai, cuốc, thuổng, với quang gánh, thúng mủng, rổ rá, bị cói…và cả cái gậy ba-toong, ô đen, quạt gấp, đôi guốc mộc vốn là vật bất ly thân của cụ lý, cụ tổng khi ra việc làng… Có nhà hàng dựng sát mép nước, khách ăn vừa khỏa chân cho sạch bụi đường, vừa thưởng thức những “đặc sản” từ sông nước ngọt, mặn – lợ hay đồng chiêm trũng liền kề: lẩu cua đồng, ốc bươu luộc, cá mòi kho tộ, ếch xào củ chuối, cá rô ron rán giòn. Có nhà hàng vách đất, mái rạ liêu xiêu núp dưới vườn chuối, hàng cau, cả khách ăn cùng món ăn đều bình dị. Tên những nhà hàng lại ngồ ngộ, nghe đã phát bật cười, thiết nghĩ chẳng cần giấu vì khách ra vào nườm nượp, nào là nhà hàng “ăn tươi”, quán “nhậu bình dân”, nào là hàng “chim ngon”, quán “chim lớn dần”… Tất cả đã dẫn dụ ngày càng nhiều người đến, rồi họ trở thành khách quen, tháng tháng quay lại  đôi ba lần,vừa làm giầu cho nhà chủ vừà làm phong phú cách hưởng thụ cho mình. Hơn thế, làm cho dòng Đa Độ sống động hơn, có nhiều mảnh đất đáng sống hơn.

           Sức sáng tạo của con người thật diệu kỳ, đã làm con sông xưa trở nên mới mẻ, tươi đẹp và hữu ích hơn, đã hướng con sông cuộn vào dòng khoa học – công nghệ, văn minh, hiện đại. Ai đó đã đưa ra những ý tưởng rất hay, có phần lãng mạn về dòng Đa Độ trong tương lai gần. Nên chăng, tạo một điểm nhấn hoành tráng trên khúc sông chân Cầu Đối, nơi được soi bóng ngọn Núi Đối uy nghiêm, nơi có thị trấn Núi Đối sầm uất; theo đó, xây dựng khu vực bơi thi, bơi tập luyện và bơi phổ thông an toàn; xây dựng cơ sở cho thuê tàu – thuyền vui chơi giải trí tại chỗ; đặc biệt, xây dựng bến ca-nô với nhiều loại chở khách đi du lịch giá rẻ những tuyến sông có điều kiện. Nên chăng tổ chức lại việc đi đò dọc trên các khúc sông, vừa phục vụ giao thông thủy (rẻ và tiện lợi) chở khách và hàng hóa trong khu vực, vừa tạo những tua du lịch ngắn, phù hợp với nhiều đối tượng. Nên chăng có một tổ chức hoặc doanh nghiệp chuyên khai thác thế mạnh, tiềm năng toàn bộ dòng sông, thời gian đầu có thể hỗ thợ một phần kinh phí nuôi bộ máyThành phố cần có ngay Quy hoạch tổng thể về khai thác, quản lý sông Đa Độ 10-20 năm để làm các việc trên một cách nghiêm túc, thống nhất, có hiệu quả cao. Được như thế, Đa Độ sẽ xinh đẹp hơn, giàu có hơn và nó sẽ chẳng kém một dòng sông kỳ vĩ nào trên đất nước ta.

Hình ảnh dòng sông Đa Độ

         Thế nhưng! Hôm nay ta không thể không dùng cụm từ buồn này khi nói tiếp về dòng Đa Độ hướng tới tương lai rạng rỡ cùng sự phát triển với nhiều đột phá của thành phố Hoa phượng đỏ. Dòng sông trong xanh, hiền dịu, tuyệt nhiên không có tội tình gì mà đang đứng trước sự đe dọa hủy hoại, cả mặt sông và lòng sông, cả màu nước và chất nước, cả dòng chảy và hướng chảy; vẻ xinh đẹp và thuộc tính phục vụ con người của nó đang giảm thiểu qua mỗi tháng năm một cách thản nhiên và dường như ít có sự nuối tiếc. Có thể thấy sự de dọa từ nhiều khía cạnh. Đó là rác thải tràn ngập ven bờ và trôi dập dềnh khắp mặt sông. Đó là những trang trại chăn nuôi, những nghĩa trang, những nấm mộ, những điểm đốt cao-su, nhựa thải nằm sát sạt mép nước, cứ ngày một gia tăng và mặc sức tuồn xuống sông những độc tố. Đó là tình trạng bồi cạp, lấn chiếm mặt sông thành ao hồ, đât canh tác mà ai ở gần đều lăm le làm và đã làm. Đó là bèo tây (độc bình) sinh sôi, nảy nở như rừng, tưởng như làm ngạt thở cả một khúc sông. Đó là… Dòng sông – bằng giọng nói riêng cuả mình đã lên tiếng kêu cứu con người vì tất thảy hành vi gây nên hậu quả trên đều ở con người, con người tự làm có ý thức và cả vô tình do kém hiểu biết. Tiếng kêu cứu nghẹt thở âm vang cả dòng sông, nhất là đoạn xa vắng. Mọi người hãy lắng nghe!

Bằng ý thức, tình cảm, trách nhiệm hãy suy nghĩ, hành động để con sông Đa Độ quý giá của chúng ta sớm thoát khỏi những nguy cơ đó, giữ cho dòng Đa Độ mãi mãi biếc xanh, trong sạch, thơ mộng, để dòng sông không bao giờ rời bỏ con người.

                                                                            *

                                                                         *     *

              Nhà thơ lớn Tế Hanh (quê Quảng Ngãi) có bài thơ rất hay về Con sông quê hương, sách giáo khoa đã in nhiều lần, tôi xin chép mấy câu để nói thay tình cảm lắng đọng của mình về dòng Đa Độ của quê ta “…Quê hương tôi có con sông xanh biếc/Nước như gương soi tóc những hàng tre/Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè/Tỏa nắng xuống dòng sông lấp loáng/Chẳng biết nước có giữ ngày giữ tháng/Giữ bao kỷ niệm giưă lòng trôi/Hỡi con sông tắm mát cả đời tôi…”.

Bài viết liên quan