HẢI PHÒNG VÀ NHỮNG ĐIỂM DU LỊCH TÂM LINH

Hải Phòng là miền đất cổ với bề dày truyền thống lịch sử, văn hóa, xã hội lâu đời. Sự hình thành và phát triển của vùng đất này gắn liền với các chứng tích của người tiền sử ở di chỉ khảo cổ học Cái Bèo (Cát Bà) thuộc Văn hóa Hạ Long cách ngày nay khoảng từ 4000 đến 6000 năm; với sự hình thành của nền văn minh sông Hồng thuộc văn hóa Đông Sơn là các chứng tích của con người ở di chỉ khảo cổ học Tràng Kênh (Thuỷ Nguyên), Núi Voi (An Lão) cách ngày nay từ 2000 năm đến hơn 3000 năm; với truyền thuyết về tên tuổi của nữ tướng Lê Chân - người lập Trang An Biên vào đầu Công nguyên - cái nôi hình thành nên đô thị Hải Phòng ngày nay.

Hải Phòng còn là vùng đất đầu sóng, ngọn gió, “phên dậu” phía Đông của đất nước, có vị thế chiến lược trong toàn bộ tiến trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Nơi đây, in đậm dấu ấn trong lịch sử chống giặc ngoại xâm phương Bắc với các chiến thắng trên sông Bạch Đằng: trận Bạch Đằng, 938 của Ngô Quyền, trận Bạch Đằng, 981 của Lê Hoàn, trận Bạch Đằng, 1288 của Trần Hưng Đạo. Thời nhà Mạc, vùng này được chú ý xây dựng thành kinh đô thứ hai gọi là Dương Kinh.

Về các danh thắng của Hải Phòng, đã được đề cập trong nhiều nội dung giới thiệu trước đây, khuôn khổ bài viết này xin được giới thiệu đến bạn đọc một số di tích của Hải Phòng - những điểm du lịch tâm linh độc đáo và ý nghĩa.


1. Đền Nghè

Có thể ví Đồ Sơn hay Cát Bà là món quà vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người, dải công viên ở trung tâm thành phố và hồ Tam Bạc là lá phổi xanh là thì đền Nghè chính là trái tim tâm linh tín ngưỡng quan trọng nhất của thành phố. Đến với Hải Phòng, bạn đừng quên ghé thăm đền Nghè để hiểu hơn về con người nơi đây.

Đền Nghè là nơi thờ nữ tướng Lê Chân. Đền nằm trên con phố rất yên bình là phố Lê Chân gần với trường tiểu học Minh Khai, trường cấp ba Ngô Quyền và nhìn ra quảng trường trung tâm thành phố. Tương truyền Đền dựng từ sau ngày Nữ tướng hi sinh, nhưng chỉ là một nghè nhỏ bằng tranh tre trên khu gò ở cánh đồng của làng An Biên. Quần thể kiến trúc hiện nay được xây dựng vào những thập kỷ đầu thế kỷ XX. Bằng tấm lòng "hằng tâm, hằng sản" của nhiều thế hệ người Hải Phòng, nên ngày một khang trang. Năm 1919, toà hậu cung 3 gian được xây dựng theo lối "chồng diêm tầng 4 mái". Năm 1926, xây toà thiêu hương, dựng toà tiền tế...

Hình ảnh có liên quan

Kiến trúc của đền Nghè mang đặc trưng kiến trúc của nhà Nguyễn. Cổng đền Nghè được xây dựng theo kiến trúc truyền thống - lối Tam Quan gồm một cổng chính và hai cổng phụ. Cổng chính của Đền thường được mở vào những dịp lễ quan trọng còn cổng phụ được mở suốt ngày đêm để du khách đến thăm viếng. Cổng đền Nghè khá quy mô gợi nhớ đến hình ảnh cổng của những cung điện đền đài thời trung cổ trước đây. Phía trên của cổng được đắp nổi tượng rồng với hình ảnh song long chầu nhật nguyệt. Bước sau cánh cổng đền, du khách sẽ bước vào không khí trang nghiêm, tĩnh mịch của đền Nghè, đền Chính nằm bên tay phải. Phía cửa đền có một cái lư hương đồng lớn, chính là nơi du khách thắp hương và khấn vọng từ phía ngoài vào. Tiếp theo là ban Trình – nơi thờ của hội đồng các quan và cũng là nơi đặt lễ, sớ chính của mọi người. Hiện Đền còn giữ lại được rất nhiều những cổ vật có giá trị là các hoành phi, câu đối, cuốn thư làm bằng gỗ được sơn son thiếp vàng và trạm trổ rất tinh vi, có niên đại lên đến hàng trăm tuổi. Hai bên Đền có đồ tế khí bởi bà Lê Chân là một nữ tướng người ta bày những bộ tế khí như giáo, thương, đao … và các sập đá, kiệu gỗ… đặc biệt là hai nhạc khí quan trọng và cổ xưa, đó là một chiếc trống lớn và chiếc khánh làm bằng đá được trạm trổ những chữ Hán trên đó. Đây là những vật dụng rất gần gũi với nữ tướng khi còn sống. Mặt ngoài chồng diêm của toà hậu cung, nơi có điều kiện phô diễn vẻ đẹp, người ta đắp nổi phù điêu trang trí, mô phỏng các điển tích như: An Tử Sơn, Ngô vương đề cờ, Trưng Vương dấy quân. Đằng trước toà hậu cung là toà thiêu hương vuông vức, hai tầng với tám mái đao cong vút, đắp "rồng chầu, phượng đón" vươn lên trong không trung tựa như những cánh tay thôn nữ trong động tác múa đèn. Toà tiền bái 5 gian được làm bằng gỗ lim nguyên cây khá bề thế. Bờ nóc của toà này đắp bằng vôi vữa, chính giữa dựng cuốn thư, đắp nổi 4 chữ Hán "An Biên cổ miếu", hai bên có phượng chầu. Kèm 2 bên thiêu hương là hai dải vũ nhỏ, mỗi toà ba gian. Phía trong cùng là hậu cung nơi đặt di tượng nữ tướng. Đây là một bức tượng cổ, tinh xảo và có nhiều giá trị. Hậu cung chỉ được mở vào những dịp lễ trọng là lễ giỗ bà Lê Chân, ngày thường được khép kín vừa tạo sự tách biệt, vừa tạo không khí trang nghiêm. Đền Nghè có một kiến trúc độc đáo khác hẳn với các đền chùa khác là không xây kín mà để thoáng ở hai bên, theo quan niệm về phong thủy, âm dương và trời đất của người xưa.

 Như vậy, các công trình kiến trúc của đền Nghè tạo thành một tổng thể không gian kiến trúc khép kín, tuân thủ theo phong cách cổ truyền dân tộc. Thông qua các đồ án trang trí thể hiện kiến trúc để phản ánh ước mơ, nguyện vọng của người đương thời và là "thông điệp văn hoá" gửi lại cho đời sau. Ngoài đền thờ chính, di tích đền Nghè còn có điện Tứ phủ. Điện nhìn ra phố Lê Chân thông qua cổng chính. Cổng đền Nghè thực sự là một công trình kiến trúc đồ sộ, đẹp và hoành tráng như cổng các cung điện, lăng tẩm, đền đài thời trung cổ. Thăm đền Nghè, khi bước qua cổng chính nhìn sang bên hữu, du khách sẽ bắt gặp một kiến trúc đẹp. Đó là nhà bia được xây và trang trí theo kiểu dáng của long đình. Chính giữa dựng tấm bia đá cao 1,5m; rộng 0,85m; dày 0,20m. Nội dung minh văn khắc ghi về tiểu sử, sự nghiệp của bà Lê Chân bằng chữ Hán, nói rõ Nữ tướng quê ở làng Vẻn, tên chữ An Biên, huyện Đông Triều, nay thuộc tỉnh Quảng Ninh. Cha là Lê Đạo, một thầy thuốc nổi tiếng tài năng đức độ. Mẹ là Trần Thị Châu, một phụ nữ đảm đang phúc hậu. Từ tuổi hoa niên, Lê Chân đã nức tiếng đẹp người đẹp nết, có chí khí hơn người. Viên quan cai trị nhà Hán đòi lấy làm tì thiếp. Ông bà Lê Đạo kiên quyết khước từ, cho con lánh về vùng ven biển huyện An Dương. Tên quan dâm ác đã giết hại cha nàng. Thù nhà nợ nước, Lê Chân quyết chí phục thù, ngầm chiêu mộ lực lượng, lập nên trang trại ở vùng đất mới, vừa chuẩn bị lương thực, vừa rèn luyện lực lượng chờ thời. Khi Trưng Trắc dựng cờ nghĩa ở Mê Linh, Lê Chân cùng nghĩa quân trại An Biên kịp thời hưởng ứng. Cuộc khởi nghĩa thành công, Trưng Trắc lên làm vua, xưng là Trưng Vương, đóng quân ở Mê Linh. Lê Chân được giao chức Chưởng quản binh quyền nội bộ kiêm trấn thủ Hải Tần. Nữ tướng ra sức tổ chức lực lượng bố trí đồn trại, lại mở lò vật để rèn luyện quân sĩ. Tương truyền ở làng Mai Động, ngoại thành Hà Nội hãy còn dấu vết sới vật do Lê Chân đặt. Năm 43, vua Hán sai tướng tài Mã Viện đem quân thuỷ bộ theo đường đông bắc sang đánh, Lê Chân đã chỉ huy quân chặn giặc, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Nhưng do chênh lệch lực lượng, bà phải lui binh về bảo vệ Mê Linh. Sau khi phòng tuyến Cấm Khê vỡ, Hai Bà Trưng tự vẫn, Lê Chân phải rút quân vào vùng núi Lạt Sơn thuộc Hà Nam bây giờ, lập căn cứ chống giặc. Mã Viện sai quân vây chặt căn cứ, chặn đường tiếp tế lương thực. Thế cùng lực kiệt, Nữ tướng phải tự vẫn để bảo toàn danh tiết. Được tin Nữ tướng hi sinh, dân trang An Biên lập đền thờ, tức đền Nghè - An Biên cổ miếu ngày nay. Đến đời vua Trần Anh Tông, bà được phong làm Thành hoàng xã An Biên, huyện An Dương và được ban thần hiệu Nam Hải Uy Linh Thánh Chân công chúa; các triều đại đều ban sắc tặng. Hàng năm cứ đến ngày sinh 8 tháng 2, ngày hoá 25 tháng chạp, ngày khánh hạ 15 tháng 8, nhân dân Hải Phòng nô nức đến đền Nghè tưởng niệm vị Nữ tướng khai quốc công thần triều Trưng cũng là người khai sinh trang An Biên, cái nôi của nội thành Hải Phòng ngày nay.

Trong tín ngưỡng người xưa, lễ vật dâng lên Thánh mẫu Lê Chân thường bao giờ cũng phải có cua bể và bún. Đến viếng đền nghè, chúng ta tạm bỏ cái ồn ào, xô bồ tấp nập, cái bon chen của cuộc sống thường ngày để đắm mình vào không gian nhẹ nhàng, yên tĩnh. Lúc đấy chúng ta trở về với chính mình và cõi tâm linh để tìm thấy cõi yên bình trong cuộc sống của mỗi người. Vào dịp Tết âm lịch sau khi viếng đền Nghè, người dân có thói quen mua gạo và muối được gói trong những mảnh giấy đỏ (hồng điều) với mong ước một năm no đủ, tình cảm đậm đà. Đây trở thành một nét văn hóa tốt đẹp. Di tích lịch sử đền Nghè là một di sản văn hoá của thành phố, của đất nước, nơi bảo tồn nhiều nếp sinh hoạt cổ phong lành mạnh, góp phần làm phong phú kho tàng văn hoá vật thể và phi vật thể của người Hải Phòng.

2. Từ Lương Xâm

Từ Lương Xâm là một trong “Tứ Linh Từ” của huyện cổ An Dương, nay là một trong 3 “Linh Từ” của quận Hải An (Từ Lương Xâm, Phủ Thượng Đoạn, Đền Phú Xá). Trong số các di tích thờ Ngô Quyền trên địa bàn quận Hải An, Từ Lương Xâm được suy tôn là “Từ Cả” - tức là nơi đứng đầu về thờ Ngô Quyền, là căn cứ đại bản doanh của Ngô Quyền khi ông chỉ huy trận Bạch Đằng năm 938.

Từ Lương Xâm toạ lạc trên khu đất rộng, cao ráo, có nhiều cây cổ thụ; phía trước Từ có một sân rộng là nơi diễn ra các hoạt động lễ hội của di tích và bên cạnh là một hồ rộng tạo nên thế phong thuỷ quý của di tích.

Kết quả hình ảnh cho từ lương xâm

Từ Lương Xâm - Đại bản doanh của Ngô vương năm 938

Từ Lương Xâm ở về phía Đông bắc của phường Nam Hải, nhìn về phía Đông trông ra cửa biển Bạch Đằng - nơi đã từng diễn ra trận Bạch Đằng lịch sử năm 938. Từ được xây dựng từ lâu, thời Hậu Lê được xây dựng nguy nga và được trùng tu vào thời Nguyễn, vì vậy toàn bộ kiến trúc Từ hiện nay mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn, chỉ có một số cấu kiện kiến trúc như đầu dư là mang phong cách nghệ thuật thời Lê.

 Trải qua thời gian, Từ bị xuống cấp nghiêm trọng, năm 2006- 2007 được sự quan tâm của các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương đã cấp kinh phí gần 13 tỷ đồng cho việc trùng tu tôn tạo di tích được khang trang to đẹp như ngày nay.

Nhìn toàn cảnh, ngôi Từ bố cục theo kiểu “nội công, ngoại quốc”, liên hoàn khép kín. Tại Từ còn lưu giữ được 25 đạo sắc chính và hơn 20 sắc phong được sao lại có niên đại năm 1522 đến năm 1924 của các triều Lê sơ, Mạc, Lê Trung hưng, Tây Sơn, Nguyễn. Trong các sắc phong đó, nhiều triều đại suy tôn Đức Vương Ngô Quyền là “Thượng đẳng tối linh đại vương”, là “Ngô Vương Thiên tử” và nhiều mỹ tự.

Đặc biệt tại nhà Dải vũ lưu giữ 03 chiếc cọc Bạch Đằng là chứng tích của trận Bạch Đằng năm 938; trong trận này, Ngô Quyền đã sử dụng kế sách cắm cọc nhọn đầu bịt sắt ngầm ở cửa biển, lợi dụng con nước thuỷ triều tạo nên một trận địa cọc tiêu diệt quân Nam Hán làm nên chiến thắng lưu danh sử sách và chiếc thuyền rồng, biểu tượng cho trận thuỷ chiến trên sông Bạch Đằng năm 938.

Theo truyền thuyết dân gian kể lại rằng: Ngô Quyền cắm cọc từ vùng Lương Xâm đến vùng cửa Nam Triệu. Sau khi Ngài qua đời, một hôm có cây gỗ trầm hương trôi đến xã Lương Xâm, nhân dân các làng Bình Kiều, Hạ Đoạn, Lương Xâm, Xâm Bồ kéo nhau ra vớt cây gỗ và cắt ra làm 3 đoạn đem về tạc tượng Ngô Quyền, làng Lương Xâm được chia đoạn gốc nên tạc tượng Ngô Quyền to và đẹp hơn.   

Với tất cả những giá trị và ý nghĩa đó, ngày 12/12/1986 Từ Lương Xâm đã được Bộ Văn hoá (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia theo Quyết định số 235 - VH/QĐ.  

Để tưởng nhớ công ơn của Đức Vương Ngô Quyền, hàng năm nhân dân địa phương tổ chức lễ hội truyền thống tại di tích trong 03 ngày từ 16- 18 tháng giêng đúng vào dịp kỷ niệm ngày mất của Ngài. Đặc biệt từ năm 2008 được sự quan tâm lãnh đạo chỉ đạo của các cấp, các ngành, UBND quận Hải An đứng ra tổ chức lễ hội Từ Lương Xâm với quy mô cấp quận thu hút đông đảo nhân dân và du khách gần xa đến tham dự.

3. Khu di tích Bạch Đằng giang

Trong khi không ít di tích, lễ hội từng bị dư luận lên án vì nạn 'chặt chém', mất vệ sinh, xuất hiện hành vi phản cảm... thì khu di tích Bạch Đằng Giang (TP.Hải Phòng) đã khiến nhiều người bất ngờ vì tôn chỉ '3 không': không mất tiền, không rác thải, không hàng quán.

Khu di tích này cách trung tâm TP.Hải Phòng 20 km, nằm trong quần thể danh thắng Tràng Kênh, huyện Thủy Nguyên, được nhà nước công nhận từ năm 1962. Nơi đây vốn có một ngôi miếu cổ thờ các vong linh tử sĩ đã chiến đấu, hy sinh trên dòng sông Bạch Đằng, sau đó được một doanh nghiệp cùng nhiều nhà hảo tâm nâng cấp, tôn tạo. Từ cổng vào, có một vườn đá cuội và một trụ đá cao chừng 5 m, mặt trước có 7 chữ “Giang san vượng khí Bạch Đằng thâu”. Ba mặt trái, phải, sau khắc công lao và thần tích của vua Ngô Quyền, vua Lê Đại Hành và đại vương Trần Hưng Đạo. Đi sâu vào trong là các dãy bonsai, cây cổ thụ. Ngôi đền đầu tiên trong quần thể di tích Tràng Kênh là đền thờ đức vua Lê Đại Hành. Đây là vị vua của triều Tiền Lê, đã có công đánh thắng quân Tống xâm lược tại dòng sông Bằng Đằng vào năm 981. Nổi bật nhất trong quần thể di tích Tràng Kênh là đền thờ Hưng Đạo Đai Vương Trần Quốc Tuấn. Ngôi đền được xây dựng hướng ra dòng sông Bạch Đằng và ngọn núi U Bò, nơi trước đây Trần Hưng Đạo chỉ huy quân dân Nhà Trần đánh tan quân xâm lượng Mông Nguyên vào năm 1288 bắt sống đại tướng Ô Mã Nhi. Ngôi đền thứ ba trong quần thể đền Tràng Kênh là đền thờ vua Ngô Quyền, người đã có công đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng vào năm 938, xóa bỏ ách đô hộ của phong kiến phương Bắc hơn 1000 năm, mở ra một thời kỳ độc lập lâu dài cho dân tộc. Ngôi đền cuối cùng trong tứ linh từ của di tích là đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngoài tứ linh từ, khu di tích còn có đền thờ Thánh Mẫu, khu nhà bảo tàng trưng bày hiện vật cọc Bạch Đằng được bảo tồn nguyên trạng trong bể thủy tinh. Đặc biệt, từ ngôi chùa phỏng theo chùa Đồng (Yên Tử, Quảng Ninh) xây trên núi Tràng Kênh, du khách thấy được vẻ đẹp hữu tình của cả vùng Tràng Kênh. Mới đây nhất, khu di tích còn có thêm 3 pho tượng đồng tạc vua Ngô Quyền, vua Lê Đại Hành và đại vương Trần Hưng Đạo, mỗi cái cao 11 m, đặt trên một quảng trường nổi, hướng ra sông Bạch Đằng, xung quanh là một bãi cọc lim mô phỏng bãi cọc Bạch Đằng thuở trước… Từng công trình đều được chăm chút rất kỹ về thiết kế, bài trí.

Kết quả hình ảnh cho tràng kênh

Chùa Tràng Kênh Trúc Lâm thuộc quần thể di tích đền, chùa Tràng Kênh

4. Khu tưởng niệm Vương Triều Mạc

Khu tưởng niệm Vương triều Mạc là một quần thể công trình được tạo dựng công phu tại xã Ngũ Đoan (huyện Kiến Thụy). Tại đây thanh long đao danh tiếng còn được gọi là Định Nam đao của Mạc Thái tổ được gìn giữ cẩn trọng.

Khu di tích rộng 2,5 ha, gồm có nhà chính điện, nơi thờ 5 vị vua triều Mạc định đô tại Thăng Long (1527 - 1592) là Thái tổ nhân minh Cao Hoàng đế Mạc Đăng Dung và 4 vị hoàng đế là Mạc Đăng Doanh, Mạc Phúc Hải, Mạc Phúc Nguyên, Mạc Mậu Hợp. 

Trước khi sải bước trên cầu qua hồ bán nguyệt vào ngũ tiền môn được xem là "cánh cửa" của Vương triều Mạc, du khách qua khu chính điện gồm tiền điện 7 gian, thiêu hương (ống muống) và hậu cung 5 gian. Sau đó, du khách tìm hiểu về ngũ tiền môn với nghi môn ngoại và nghi môn nội có cấu trúc 4 trụ, 3 gian, 2 tầng, 4 mái tạo nên một không gian linh thiêng. Nơi du khách dừng chân nghỉ ngơi, sắp lễ trước lúc vào dâng hương ở chính điện là hai tòa nhà giải vũ nằm song song đối diện với nhau. Đây là nơi che mưa, che nắng, theo quan niệm của người phương Đông ý nói đến sự che chở của dòng tộc họ Mạc đối với các thế hệ con cháu. Nhà chính điện thờ các vua nhà Mạc với tổng thể toà nhà 4 mái gồm 7 gian, 2 trái, 6 hàng chân cột, diện tích 378,36 m2. Phần mái nhà chính điện được lắp ngói mũi hài phục chế, ngói chiếu có hoa văn chữ thọ. 

Du khách đến thăm khu tưởng niệm được giới thiệu nhiều đồ thờ, cổ vật quý giá trong điện chính. Từ chiếc bình với hình ảnh chùa một cột, chim hạc đến chiếc đại hồng chung nặng 1.527kg, chiếc chiêng đồng với hình ảnh 2 con rồng khắc nổi được đặt trang trọng trong chính điện. Đặc biệt là thanh Định Nam đao, hơn 500 năm tuổi, từng cùng vua Mạc Đăng Dung xông pha chiến trận và "bách chiến bách thắng". Theo nhiều nhà khảo cổ học, đây hiện là thanh long đao lớn nhất khu vực Đông Nam Á với chiều dài 2,55m, cân nặng 25,6 kg, bằng sắt rỗng, phần lưỡi dao dài 95 cm, cán dao dài 1,6 m. Theo gia phả dòng họ và truyền ngôn của các bậc cao niên, thời còn làm tướng, đức Mạc Thái tổ thường sử dụng thanh đại đao này xông pha trận mạc. Về thăm khu tưởng niệm, du khách được nghe kể về hành trình hàng trăm năm của thanh long đao với những câu chuyện gìn giữ, cất giấu, thờ phụng của triều đình nhà Mạc và dòng họ Mạc kể từ sau ngày Mạc Thái tổ băng hà. Trải qua không ít khó khăn, thậm chí là cả máu và nước mắt để bảo vệ di vật này của tiên tổ khỏi sự phá huỷ của thời gian, dòng họ Phạm gốc Mạc ở Nam Định tìm đủ mọi cách giữ gìn bảo vật, khi để trong hòm kính, khi để trong hòm tôn, ngâm hoàn toàn trong nhớt để chống gỉ sét. Thể theo nguyện vọng của tiên tổ và các chi họ Mạc, gốc Mạc trên toàn quốc, năm 2010 họ Phạm gốc Mạc quyết định rước thanh long đao trở về thôn Cổ Trai, xã Ngũ Đoan, Kiến Thụy đúng dịp kỷ niệm 469 năm ngày mất của Mạc Thái tổ, khánh thành công trình Khu tưởng niệm Vương triều Mạc, công trình chào mừng 1000 năm Thăng Long- Hà Nội.

Hình ảnh có liên quan

 

5. Khu di tích Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tại thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo được Nhà nước xếp hạng cấp quốc gia năm 1991.

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) có tên chữ là Hanh Phủ, tên hiệu là Bạch Vân cư sĩ, sinh ra trong một gia đình vọng tộc tại thôn Cổ Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương (nay là huyện Vĩnh Bảo, Tp. Hải Phòng). Năm 1535, ông thi đỗ Trạng nguyên và ra làm quan cho nhà Mạc, giữ chức Tả thị lang.

Năm 1543, trước cảnh quan lại lộng quyền, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dâng trảm sớ đối với 18 đình thần biến chất, mưu phản song không được nhà vua chấp thuận. Ông bèn cáo quan về ở ẩn nơi quê nhà, lập am Bạch Vân, mở trường dạy học, làm thơ, nghiên cứu kinh sử. Học trò của ông nhiều người trở thành danh tướng, Trạng nguyên như: Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Quyền…

Kết quả hình ảnh cho trạng trình nguyễn bỉnh khiêm

Quang cảnh khu đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nguyễn Bỉnh Khiêm còn là nhà triết học lớn của Việt Nam. Ông cũng tinh thông về thuật số, được dân gian truyền tụng và suy tôn là “nhà tiên tri” số một của Việt Nam với hàng loạt những lời tiên tri cho hậu thế mà người đời gọi là “Sấm Trạng Trình”.

Đến thăm Khu di tích, bước qua cổng Tam Quan là đền thờ với ba gian tiền đường và hai gian hậu cung được lập từ nền nhà cũ của Trạng Trình. Cây đa cổ thụ thân to mấy người ôm không xuể, rễ buông mành xuống sân. Hai con rồng đá ngự bên bức bình phong như trang sách mở ra tôn thêm vẻ trang nghiêm cho ngôi đền. Cây cầu đá bắc qua hồ Thái Nhâm, phía dưới đàn cá vàng bơi lội trong làn nước trong vắt.

Sừng sững ở trung tâm quần thể di tích, tượng đài Nguyễn Bỉnh Khiêm bằng đá cao 5,7 m, nặng 8,5 tấn uy nghiêm qua bao mùa mưa nắng. Lư hương bên tượng đài lúc nào cũng nghi ngút khói hương. Hai bức phù điêu lớn với những nét điêu khắc tinh sảo của các nghệ nhân đã dựng lên những thước phim sống động về những thăng trầm trong cuộc đời danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Tạo thế “tọa sơn vọng thủy”, tượng đài hướng ra hồ bán nguyệt rộng khoảng 1000m2, hàng liễu xanh ngăn ngắt rủ bên bờ, tựa vào chín ngọn núi sấm sừng sững. Trèo lên đỉnh những ngọn núi này, phóng tầm mắt ra xa ngắm nhìn khung cảnh làng mạc mờ mờ trong khói lam chiều, cánh đồng thẳng cánh cò bay, chú bé mục đồng vắt vẻo lưng trâu, rồi thu vào tầm mắt toàn bộ khung cảnh khu di tích: trầm mặc chùa Song Mai, đền thờ có tượng bà Minh Nguyệt (vợ thứ của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm), đền thờ thân sinh Nguyễn Bỉnh Khiêm bằng gỗ lim vững chắc như thách thức với thời gian, um tùm những tán cây, bồn hoa được cắt tỉa chu đáo…

Dạo bước trong khu di tích, thả hồn vào không gian làng quê yên bình với rặng tre xanh. Lạc vào khu vườn tượng với những bức tượng kích thước và hình dáng như thật diễn tả cuộc đời của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Khu vườn tượng không chỉ có giá trị thẩm mĩ mà còn có giá trị lịch sử quý giá.

Điểm nhấn của khu di tích là căn nhà được lợp bằng cói mô tả Bạch Vân Am trước đây. Khoảnh sân nhỏ cũng là lát cắt trong quãng đời của Bạch Vân cư sĩ từ sau khi cáo quan về ở ẩn với những bức tượng đủ hình hài, những đứa trẻ cùng bố mẹ đến xin cụ dạy chữ, những vị quan vốn là học trò đến vấn an cụ,…

Thật tiếc nếu bạn đến thăm khu di tích đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm mà lại bỏ qua nhà trưng bày. Nơi đây lưu giữ bút tích, những kiệt tác văn học qua những bản in cổ, những lời sấm truyền cho ngàn đời sau … Bạn sẽ được sống lại những khoảnh khắc lịch sử với những hiện vật giá trị.

Quần thể khu di tích còn được mở rộng với Tháp bút Kình Thiên, tương truyền được học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm dựng lên thể hiện niềm tôn kính, ca ngợi tài năng của cụ như trụ cột chống trời. Bên bờ sông Hàn là Quán Trung Tân nơi Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn thường ngồi câu cá và nghĩ suy thế sự. Khu di tích rộng gần 6 ha đủ để du khách trải nghiệm những cung bậc cảm xúc khác nhau.

6. Chùa Tháp Tường Long (Quận Đồ Sơn)

Khu du lịch Đồ Sơn, Hải Phòng nổi tiếng với những bãi tắm lý tưởng và phong cảnh hữu tình. Nhưng ít người biết rằng trên đỉnh Long Sơn (phường Ngọc Xuyên), ngọn núi đầu tiên trong 9 ngọn chạy dọc bán đảo Đồ Sơn còn có một di tích văn hóa lịch sử với cả nghìn năm tuổi - đó là tháp Tường Long.

Tháp Tường Long (còn gọi là tháp Đồ Sơn) xây thời Lý Thánh Tông. Công trình kiến trúc Phật giáo này đuợc xây trên bãi đất rộng khoảng 2.000 m2, thuộc địa phận phường Vạn Sơn, thị xã Đồ Sơn. Bốn góc tháp đều nghiêng vào tâm 190.

Lòng tháp rỗng và là nơi đặt pho tuợng A di đà. Công trình đuợc xây bằng gạch và đá có kích thuớc khác nhau. Ngoài loại gạch xây, còn có loại gạch ốp ngoài vỏ tháp với nghệ thuật trang trí độc đáo như hoa sen, hoa cúc, hoa chanh. Cách trang trí này biểu hiện nghệ thuật điển hình thời Lý. Theo sách "Đại Việt sử lược" thì năm Mậu Tuất 1058, vua Lý Thánh Tông sau khi ngự giá qua biển Ba Lộ đã dừng chân ghé lại nơi đây xây tháp. Sau ngài nằm mộng thấy rồng vàng bèn ban cho ngọn tháp cái tên Tường Long, nghĩa là "Thấy rồng vàng hiện lên" để ghi nhớ điềm lành. Lại có người cho rằng cửa biển Đồ Sơn là một trong những cái nôi tiếp nhận cho dựng tháp ở đây để thờ Phật. Khi xưa, có thể nơi đây còn là một đài quan sát nằm trong hệ thống "truyền đăng". Mỗi khi có biến, các trạm quan sát ven biển liền đốt cỏ khô cho khói bay lên trời, truyền tín hiệu báo động về kinh thành.

Kết quả hình ảnh cho chùa tháp tường long

Qua những di vật còn lại thì thấy rằng tháp Tường Long được xây cùng thời với tháp Báo Thiên ở kinh thành Thăng Long (nay là khu vực Nhà hát lớn Hà Nội). Theo Đại NaM nhất thống chí", tháp cũ Đồ sơn cao 100 thước, dựng trên một khu đất rộng 1000m2, có 9 tầng, cửa mở ra hướng tây. Một thước ta dài 0,45m, như vậy tháp cao khoảng 0,45m, lại đặt trên ngọn núi cách mặt biển 100m nên ngọn tháp này thuộc loại cao nhất so với các tháp ở Việt Nam thời bấy giờ. Tháp Tường Long nhiều lần được tu tạo và khôi phục trong triều Trần và triều Lê, nhưng đến năm Gia Long thứ 3 (1804), triều đình nhà Nguyễn đã cho phá tháp để lấy gạch xây thành Hải Dương. Điều này chứng tỏ tháp Tường Long xưa vô cùng qui mô, bề thế.

Năm 1998, ban quản lý các công trình văn hóa thành phố Hải Phòng lại tổ chức khai quật tháp để hoàn chỉnh hồ sơ, đề nghị công nhận tháp Tường Long là di tích lịch sử văn hóa. Tuy nhiên, đến nay dự án vẫn chưa được phê duyệt. Những viên gạch xây tháp vứt ngổn ngang một số được lấy để xây hầm pháo. Một hào giao thông chạy cắt ngang chân tháp. Năm 1990, người dân Đồ Sơn đã tự ý xây dựng một ngôi chùa ngay trên nền tháp. Đây là điều sẽ gây khó khăn cho việc tôn tạo di tích sau này.

Từ vị trí tháp Tường Long có thể thấy biển với những con tàu ra khơi vào lộng, thấy thị xã Đồ Sơn cùng làng mạc, đồng ruộng xanh tươi, lại hiểu người xưa sao khéo chọn địa điểm xây tháp: Mong sao tháp Tường Long sớm được xếp hạng, bảo tồn, tôn tạo để du khách có dịp chiêm ngưỡng một công trình giá trị nhiều mặt về kiến trúc, điêu khắc tôn giáo và văn hóa của thế kỷ XI.

7. Đền Bà Đế

Đền Bà Đế nằm ở chân núi Độc, thuộc phường Ngọc Hải, Quận Đồ Sơn, là một trong những đền nổi tiếng về danh thắng và linh thiêng. 

Ðền có cấu trúc giản dị nhưng thanh thoát và trang nhã, nép mình vào lưng núi, trước mặt là biển khơi bao la, tạo nên một kỳ quan thiên nhiên độc đáo không thua gì “Nam thiên đệ nhất động - Chùa Hương”.

Như bao đình chùa, miếu mạo ở nước ta thường được hình thành bắt nguồn từ một sự tích. Những bậc kỳ lão địa phương lưu truyền cho con cháu rằng, vào năm 1736, chúa Trịnh đời thứ 7 là Trịnh Giang về Đồ Sơn rong chơi dạo cảnh bằng thuyền.

Theo chính sử, Trịnh Giang là con trai trưởng của An Đô Vương Trịnh Cương. Vì Trịnh Giang chơi bời trác táng, chí không lớn, trí không cao nên Trịnh Cương không trao quyền kế vị. Chúa Trịnh Cương chưa kịp lập người kế vị thì đột ngột qua đời vào tháng 4-1730. Trịnh Giang chiếm ngay ngôi chúa.

Sau khi lên ngôi chúa, Trịnh Giang bỏ bê việc nước, chỉ chú tâm vào hưởng thụ đàn ca xướng hát và dâm loạn.

Khi rong chơi ở biển Đồ Sơn, thuyền rồng đến gần núi Độc, Trịnh Giang bỗng nghe một giọng hát con gái lanh lảnh vang lên. Giọng hát hay đến mức sóng ngừng rì rào, chim ngừng hát, đất trời lặng đi để lắng nghe. Giọng hát khiến chúa xao xuyến, mê mẩn nên truyền lệnh cho thị vệ tìm cho được người con gái, chủ nhân giọng hát, bắt đem lên thuyền.

Thị vệ rời thuyền lên núi Độc truy tìm thì phát hiện giọng hát là của một cô thôn nữ “hoa nhường nguyệt thẹn” tên Đào Thị Hương vừa tròn 18 tuổi. Hương là con gái duy nhất của một ngư dân làng chài nghèo khó. Từ khi chào đời, da thịt Hương có một mùi thơm quyến rũ lạ thường. Khi bắt đầu biết nói, Hương đã làm lay động lòng người bởi giọng hát trữ tình, lanh lảnh như chim hót. Hằng ngày, cô xuống bãi biển bắt ốc, đổi gạo, nuôi cha mẹ già.

Kết quả hình ảnh cho đền bà đế

Đền Bà Đế, Đồ Sơn, Hải Phòng

Thị vệ bắt Hương đem lên thuyền cho chúa. Động lòng tà dâm, Trịnh Giang cưỡng dâm nàng thôn nữ. Sau khi thỏa mãn thú tính, Trịnh Giang đe dọa, nếu nàng kể cơ sự cho người khác biết, cả làng sẽ bị tru di. Trịnh Giang sai thị vệ ném nàng xuống biển rồi dong thuyền đi.

Nàng Hương không chết nhưng một sinh linh trong bụng bắt đầu hình thành. Biết nàng chửa hoang, hương chức làng bắt nàng khai chủ nhân của bào thai. Nàng nghĩ, nếu khai ra sự thật, bạo chúa Trịnh Giang sẽ giết hết dân làng, trong đó có cha mẹ mình, nên cương quyết không khai.

Tức giận vì nàng Hương chửa hoang làm ô uế thanh danh của làng, các hương chức đem nàng ra mép biển núi Độc trói lại rồi dìm xuống nước. Trước lúc bị dìm, nàng Hương cất tiếng than oán: “Tôi vì sinh mạng dân làng mà chịu chết. Nỗi oan này thấu trời động đất. Khi chết oan hồn tôi quyết ở lại trần gian khi nào giải được tội mới về trời”.

Một người trong họ Hoàng Đình được sai dùng dây thừng trói nàng vào cối đá rồi dùng sào cắm xuống đáy nước. Nỗi oan khuất động lòng biển, sóng cồn nổi lên đẩy thi thể nàng Hương cùng dây thừng, cối đá dạt vào một hang đá dưới chân núi Độc.

Người họ Hoàng Đình lại dùng sào cắm thi thể nàng Hương xuống đáy biển. Sóng lại dâng cao nhổ sào đẩy thi thể cùng cối đá dạt vào hang. Người họ Hoàng Đình lại cắm sào xuống đáy nước. Thi thể nàng lại bị sóng đẩy vào hang. Sự việc cứ lặp đi lặp lại như thế đến lần thứ ba thì không ai còn thấy thi thể nàng Hương đâu nữa. Hang đá chỉ còn trơ lại dây thừng và cối đá.

Từ đó, hàng đêm, dân làng nghe thấy từ hang đá văng vẳng tiếng hát cao vút, bi ai. Tiếng hát than oán nỗi oan khiên. Lắng nghe tiếng hát, dân làng thấu hiểu nỗi oan và nhận ra nàng chấp nhận chết để tránh họa bạo chúa cho dân làng. Điều kỳ lạ là những người có nỗi oan khiên, khi tìm đến hang đá than khóc đều được nàng Hương hiển linh báo mộng chỉ cách hóa giải. Vì lẽ đó, một số người gọi hang đá đó là “Hang giải oan”.

Ba năm sau (1739), Trịnh Giang loạn luân, gian dâm với phi tần của cha bị phát giác. Người phi tần họ Đặng này bị xử tội tự uống thuốc độc. Còn Trịnh Giang bị trời đánh, không chết nhưng mắc bệnh tự kỷ, tâm thần luôn sợ sệt, tự xây huyệt mộ dưới đất cho mình để làm nơi lẩn trốn ánh sáng mặt trời. Bạo chúa Trịnh Giang ẩn mình dưới huyệt mộ suốt 11 năm cho đến khi qua đời.

Kể từ khi Trịnh Giang mắc bệnh, con trai là Trịnh Doanh lên thay ngôi chúa.

Sau khi lên ngôi chúa, Trịnh Doanh đã về núi Độc giải oan cho nàng Hương. Chúa Trịnh Doanh bắt dân làng lập đền tại hang đá để tưởng nhớ. Dân làng gọi là đền Giải Oan.

100 năm sau (khoảng năm 1850), có lần Vua Tự Đức đến viếng đền. Nghe dân làng kể lại tích xưa, cảm thương nàng Hương, vua ban chỉ sắc phong nàng Hương là: Đông Nhạc Đế Bà – Trịnh Chúa Phu nhân. Đồng thời, Vua Tự Đức xuất ngân xây dựng mái đền nơi cửa hang để dân làng tiện cúng bái, chiêm ngưỡng sự tích và răn dạy con cháu.

Giai thoại trên và mốc lịch sử đều trùng khớp nhau.

8. Đảo Hòn Dáu

Hòn Dáu là hòn đảo nhỏ cuối cùng tách ra khỏi dãy núi, cách bán đảo Đồ Sơn chừng 1 km. Người ta ví như chín con rồng đang chầu về viên ngọc. Đảo như là điểm đánh dấu để thuyền ra khơi đánh cá biết lối trở về.  

Nhìn từ trên cao xuống, Hòn Dấu với Đồ Sơn như một dấu chấm than khoét vào lòng biển cả mênh mông. Từ bến Nghiêng, con tàu chở du khách lướt trên những con sóng uốn lượn, chỉ khoảng 20 phút, màu xanh ngút ngàn của chốn núi rừng hoang sơ đã ùa vào trước mắt, khoe vẻ đẹp thanh khiết giữa mặt biển. Đền thờ Nam Hải Thần Vương ngự ngay cạnh bến tàu, vẻ đẹp linh thiêng được tôn lên nhờ bãi sỏi uốn lượn như muôn ngàn nốt nhạc vô thanh thả xuống rì rào sóng biển. Truyền thuyết kể rằng sau một trận thủy chiến đánh tan giặc Nguyên Mông trên sông Bạch Đằng, người dân trên đảo thấy một tử thi cụt đầu trôi vào đảo. Nhìn quần áo của Ngài, biết là tướng nhà Trần tử trận, bà con bèn lập đền thờ. Tương truyền thần Nam Hải rất linh thiêng, nếu ai dám lấy đi bất cứ thứ gì trên đảo, kể cả một lá cây, sẽ bị Ngài phạt, phải đem trả lại mới yên. Chính vì thế đảo luôn vẹn nguyên, cống hiến cho du khách cảnh quan thiên nhiên kỳ thú.

 Đường lên đảo len lỏi giữa rừng đa nguyên sinh thuần nhất. Đi dưới mái vòm lợp bằng lớp lớp tán cây cổ thụ, dây leo chằng chịt, những chùm rễ si buông xuống như tơ liễu, cảm giác vô cùng thơ mộng, thú vị. Rừng ở đây còn vẹn nguyên cả ba tầng thực vật, cơ man những gốc cây cổ thụ to lớn, điểm xuyết những cây thân thảo, thân bò, thân leo gieo vào lòng du khách cảm giác hoang vu. Đồn biên phòng đóng trên đảo có nhiệm vụ bảo vệ và vận hành trạm Hải Đăng. Đảo có nhiều hạng mục công trình quan trọng: kho dầu hỏa, nhà làm việc, nhà ở cán bộ, chiến sĩ, nhà ăn, cột báo hiệu, nhà triều ký, nhà hoa tiêu, trạm nghỉ ngơi dành cho khách du lịch.

Công trình kỳ vĩ nhất, tâm điểm của khu du lịch chính là ngọn Hải Đăng. Đèn Hòn Dấu được người Pháp thiết kế và xây dựng từ năm 1892 - 1896. Tháng 6-1898, đèn chính thức hoạt động. Tháp cao năm tầng, đỉnh đèn cao 140m so với mặt nước biển, ánh sáng được phát ra từ độ cao 65m so với chân tháp. Ban đầu, tháp đèn được xây dựng hoàn toàn bằng đá khối với các hoa văn rất đẹp. Do chiến tranh tàn phá, qua nhiều lần sửa chữa, đèn gần như được xây dựng lại hoàn toàn.

Cây đèn biển đã trên trăm tuổi, được mệnh danh là mắt ngọc của Tổ quốc. Cao như một tháp pháo đài cổ vút lên giữa đảo, trên cùng là ngọn hải đăng chiếu xa tới 24 hải lý (khoảng 40km). Những con tàu trên biển xa khi bắt được ánh sáng hải đăng Hòn Dấu là sắp trở về bến đậu. Lối lên đỉnh tháp theo hình xoáy trôn ốc với 125 bậc gỗ. Đứng trên đỉnh cao hàng chục mét đón cơn gió căng tràn sức sống của biển sẽ thấy đất trời vô cùng. Thưởng thức món ăn hải sản trên lầu vọng, phóng tầm mắt ra bốn phương cao rộng thấy lòng sảng khoái khôn cùng.

 

Kết quả hình ảnh cho đảo hòn dáu

Hòn đảo nhỏ nhưng kiên cường trong lịch sử.

 

Minh Ngọc

 

Scroll To Top